Ông Đặng Đình Viên là cựu quân tình nguyện tại Lào. Trong nhiều năm sống, chiến đấu và tham gia công tác dân vận, ông có vô vàn những kỷ niệm không quên về tình đoàn kết chiến đấu giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào. Sau đây, xin giới thiệu bài viết “Bộ đội của dân” của ông được đăng tuyển tập “Ký ức người lính”.

Bộ đội tình nguyện Việt Nam giã gạo giúp nhân dân Lào (Nguồn: Sách ảnh Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào/Nhà xuất bản Thông tấn)

Từ ngày vào bản cùng ăn, cùng ở, cùng làm giúp dân, ngoài việc gây lòng tin với dân bản, tuyên truyền đường lối cách mạng đã giúp người dân có cách nghĩ, cách nhìn bộ đội khác trước rất nhiều. Bọn địch ở Mường Om nghe tin, đã mấy lần tổ chức ra quấy phá nhưng không thành, bởi chúng đã bị dân bản phát hiện và báo cho chúng tôi biết để chặn đánh hoặc khống chế, do đó mà vấn đề giao thông đoạn đường quốc lộ 4 cũng an toàn hơn.

Không còn chỗ dựa làm bàn đạp ra quấy phá hậu phương của ta, bọn địch lại dùng thủ đoạn mua chuộc khống chế một số phần tử xấu trong bản để kích động, chia rẽ dân bản với bộ đội Việt. Dụ dỗ khống chế không được đã có mấy lần bọn địch tổ chức tập kích vào bản, xong rất may là được dân báo có địch về, đơn vị đã kịp thời tổ chức cho dân sơ tán và chuẩn bị phương án tác chiến đối phó với địch. Chúng tôi phân công tổ cánh giới, tổ phục kích sẵn sàng đánh trả khi địch vào làng, tổ đưa dân tới nơi an toàn tránh địch.

Do chúng phải hành quân từ xa đến, lực lượng mỏng lại biết tin có bộ đội Việt Nam nên chúng không dám đánh thẳng vào mà từ xa dùng súng cối 61 ly bắn vào bản, sau đó vội rút chạy ngay nên thiệt hại không đáng kể. Mặc dù vậy cũng có một người mẹ và một em bé bị thương nhưng đã được chúng tôi cứu chữa kịp thời. Sau một vài trận quấy phá như vậy, dân bản càng tin yêu bộ đội hơn vì khi bị địch tập kích bộ đội vẫn ở cùng dân để bảo vệ, hướng dẫn giúp dân tránh địch, che chở cho dân, đồng thời cứu chữa người bị thương. Các cụ già, người ốm không đi được anh em tổ chức cõng đưa mọi người đến điểm sơ tán an toàn. Có những đêm chạy địch đầy lo lắng, căng thẳng và mệt mỏi, nhưng hôm sau trở về bản mọi gia đình càng vui hơn khi nhà cửa, gia súc của dân vẫn được bảo đảm an toàn.

Cả bản ai cũng ca ngợi và cảm ơn bộ đội. Tôi còn nhớ, có một lần sau khi giúp dân sơ tán tránh địch trở về, chiều hôm đó già bản tập hợp các cụ già trong bản đến cảm ơn bộ đội. Các cụ nói: các con giỏi lắm, các con tốt lắm, các con đánh không cho địch về bản bắt con gái, bắt lợn, bắt gà, các con còn giữ được tài sản cho bà con, dân bản cảm ơn các con nhiều lắm, các con đúng là bộ đội của dân. Công việc đi làm dân vận của đơn vị tôi ngày càng thuận lợi và mối quan hệ giữa bộ đội với người dân, giữa dân với bộ đội ngày càng thân thiết. Cản gác có sợi dây vô hình gắn kết giữa những người lính chúng tôi với đồng bào như những người ruột thịt. Đi lao động giúp dân làm nương rẫy hay việc gì đó đều được mọi người tự coi như làm cho chính gia đình của mình. Cứ sau mỗi bữa cơm chiều, nếu  không có tiếng trẻ em ríu rít, bóng những mẹ già đi lại, tiếng nói dịu dàng, ngọt ngào, tiếng cười đùa của các cô gái Lào trong mỗi người chúng tôi lại thấy như thiếu đi một cái gì đó thân thiết vô cùng.

Thấm thoắt đã hơn một tháng đi làm “dân vận”, làm người của bản. Bất ngờ Nang Đa, nữ y tá Pathét Lào được đơn vị gọi về nhận nhiệm vụ mới. Buổi chia tay của những người lính diễn ra cũng thật giản dị, nhanh chóng nhưng ấm tình anh em đồng chí. Khi 2 đồng chí Pathét Lào xuất hiện ở bản cho Nang Đa biết nhiệm vụ của họ phải đón cô trở về, trong lúc đơn vị đi vắng cả chỉ có tổ của chúng tôi ở bản cùng Nang Đa làm nhiệm vụ là biết, mặt khác cũng phải giữ bí mật với dân để bảo đảm an toàn cho đồng chí của mình. Vì thế chúng tôi cũng không báo cho ai, mỗi người một tay giúp nữ đồng chí của mình thu dọn tư trang để lên đường được ngay, không một dòng lưu niệm, không một vật làm tin, chỉ có những cái bắt tay đằm thắm, sâu nặng nghĩa tình, chỉ có ánh mắt nụ cười lưu luyến bịn rịn...

Khóe mắt Nang Đa ngấn lệ, trong mỗi chúng tôi cũng xao xuyến phút chia tay. Bởi ngoài chuyên môn cô còn giúp dạy tiếng Lào, chỉ dẫn các phong tục, tập quán của người dân các bộ tộc Lào cho chúng tôi. Nhiều đồng chí đi làm nhiệm vụ không được chia tay Nang Đa cứ thẫn thờ tiếc mãi. Đặc biệt là tình cảm thân mật, chân tình, cử chỉ dịu dàng của cô với cánh lính chúng tôi xa gia đình, xa tổ quốc sống giữa rừng xanh khắc nghiệt mà xung quanh kẻ thù luôn rình rập thì tình cảm của Nang Đa giành cho chúng tôi là không thể đong đếm được. Ngay sau hôm Nang Đa trở về đơn vị, chúng tôi cũng được lệnh bí mật rút về để tổ chức luồn sâu vào hậu cứ địch tham gia tập kích Trường sỹ quan Mường Chà và căn cứ Na Ao.

Ngày 15/4/1969 Trường sỹ quan Mường Chà - Na Ao đã bị ta xóa sổ. Chúng tôi được lệnh rút ra bảo vệ thị xã Xiêng Khoảng nay là huyện lỵ Mường Khun. Chiều hôm hành quân ngang qua bản mặc dù không được thông báo trước, nhưng không biết từ đâu mà dân bản bản đã đổ ra đường để chào đón các anh bộ đội tình nguyện và tìm lại "người của bản". Họ cứ chờ mãi, chờ mãi đến khi trời chạng vạng tối đơn vị tôi mới hành quân qua.

Thật không sao kể xiết tình cảm mà các ông bố, bà mẹ, các cô gái, các em nhỏ giành cho anh em chúng tôi. Họ coi chúng tôi như những người con của bản đi xa trở về, ai cũng cố nài nỉ mời về nhà, mặc dù biết là chúng tôi không thể về với dân bản được nữa, các mẹ dúi vội vào tay chúng tôi những tuýt xôi, quả chuối... Cuộc gặp gỡ chia tay diễn ra chỉ trong 10 phút giải lao của đơn vị, những nhớ nhung giành cho nhau cùng những giọt nước mắt chia tay. Tôi cũng không ngờ rằng lần đi công tác dân vận ở Na Cang, Na Khai đó lại là lần duy nhất, sau đó không có cơ hội nào để chúng tôi và dân bản gặp lại nhau được nữa. Khi viết lại dòng ký ức này tôi vẫn hằng mong có dịp được về thăm lại bản xưa, cái bản Lào heo hút và nghèo khó nhưng đầy tình người. Tôi cũng tin rằng các thế hệ sau của bản vẫn giữ mãi tình cảm chân thành, nghĩa tình sâu nặng của các chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam.

Chúng tôi cũng hy vọng là tất cả các bản làng khác trên đất nước Lào sẽ ngày càng phát triển, ai cũng có cuộc sống ấm no và hạnh phúc./.

 
Đặng Đình Viên CCB c1, d924, e866